Trần Thượng Xuyên [3] với quá tŕnh khai khẩn,
phát triển và bảo vệ
thành quả khẩn hoang vùng
Đồng Nai – Gia
Định
PHẠM
PHÚ LỮ
1.
Vào giữa thế kỷ XVll (1679), bên Trung Quốc, nhà Minh
đang suy yếu, giặc giă nổl lên cướp phá, gây
loạn lạc khắp nơi, dân t́nh khổ sở. Vua
nước Măn Châu đương thời là Hoàng Thái Cát
thừa cơ cử binh sang đánh vào Cẩm Châu, Ninh
V́ễn, lần lên chiếm lấy Bắc Kinh, lập lên
nhà Đại Thanh. Vua Thanh là Thánh Tổ Khang Hy đă hạ
lệnh toàn quốc phải cạo tóc' thắt bím, ăn
mặc theo người Măn, ai không tuân theo đều
phải tội chết. Tuy nhiên, người phương
Nam, nhất là các tỉnh Giang Nam, Triết Giang, Giang Tây
đă nổi lên phản kháng quyết liệt. Nhà Thanh
lại sai phá hết thành quách, đồn lũy, ruộng
vườn ở gần bờ biển các tỉnh
Triết Giang, Phước Kiến, Quảng Đông và ra
lệnh dời dân ở đây vào 30 dặm trong nội
địa, ai c̣n trong giới hạn cũ, phải tội
chết và cấm cả ghe thuyền hạ thủy.
Bốn
viên tướng của nhà Minh là Dương
Ngạn Địch, tổng binh đế
Long Môn và phó tướng Huỳnh Tấn; Trần Thượng Xuyên
tự Thắng Tài, tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm và phó
tướng Trần An B́nh đă chiếm cứ đảo
Đài Loan cùng nổi'lên chống triều đ́nh nhà Măn
Thanh, nhưng bị thất bại, nên đă đem 3.000
quân cùng gia quyến và 50 chiến thuyền chạy vào
cửa biển Tư Dung và cửa Đà Nẵng xin các chúa
Nguyễn cho tỵ nạn trên đất Việt. (1) sau khi
bàn bạc, cân nhắc thiệt hơn, chúa Nguyễn
Phước Hiền đă ban quan tước cho họ,
lại viết thư và sai người đem thư
đến trao cho vua Chân Lạp, yêu cầu chia, cấp
đất đai cho họ để họ khai khẩn làm
ăn: ''Chúa Nguyễn bèn khiến đặt yến
tiệc đăi họ, an ủi, khen ngợi, cho các
tướng lănh y chức cũ, phong thêm quan tước
mới, khiến vào ở đất Đông Phố
để mở mang đất ấy Họ
được các tướng Vân Tŕnh, Văn Chiêu
hướng dẫn, binh thuyền tướng sĩLong Môn
của Dương Ngạn địch t́ến vào cửa
Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu,
đến định cư ở Mỹ Tho, binh lính
tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng
Xuyên, Trấn An B́nh tiến vào cửa biển Cán Giờ roi
lên định cưở Bàn Lân, xứ Đồng Nai (Biên
Ḥa) ngày nay (2).
Như
thế trên danh nghĩa họ Dương, họ Trần
đă nhận quan tước và nhiệm vụ của chúa
Nguyễn vào đất Đồng Nai - Gia Định
chứ không thuần túy là những người bỏ xứ
ra đi tỵ nạn. Họ đă thành thán dân của chúa
Nguyễn! Với chính sách đối xử khá thuận
lợi của họ Nguyễn, những di dân người
Hoa đă triệt để lợi dụng những
điều kiện có lợi trong việc làm ăn sinh
sống để tạo nên một cộng đồng
người Hoa vững chắc ở nhiều nơi trên
toàn dải đất xứ Đàng Trong và đặt
nền tảng cho sự phát triển của họ sau này.
Nhóm của Tổng binh Trần Thượng Xuyên sau khi
đến Bàn Lân lập nghiệp, đă tiến hành chiêu
mộ, thu hút lưu dân người Trung Quốc đến
làm ăn sinh sống, mở mang đất đai. Trong
số lưu dân đến sau này có thể có người
đă nhập cư từ trước nhưng ở phân
tán nhiều nơi, nhưng phần lớn phải là
những người mới từ Trung Quốc di cư
tới và đa số là người buôn bán. Từ đó
họ mới thu hút khách thương đến buôn bán làm
ăn ở Cù lao Phố gồm có người châu Au, người
Nhật, người Mă Lai... ṇng cốt ban đầu là các
lái buôn Trung Quốc. (3)
Buổi
đầu đến định cư khai phá, nhóm Hoa
kiều này khắc phục những trở ngại thiên
nhiên trong đời sống hàng ngày như chặt
đốn cây cối, phát cỏ rậm xung quanh khu vực
định cư, khai thông nguồn nước, mở mang
đường ngơ... Vấn đề giải quyết
lương thực được đặt lên hàng
đầu, tuy nhiên do số lượng không nhiều, nên
mức độ khai phá mở mang của nhóm này vẫn
chưa có đóng góp đáng kể. Vả lại
đối với nhóm người Hoa này th́ nông nghiệp
không phải là phương thức sinh sống chủ
yếu. Họ có tham gia khai phá đất đai để
sản xuất nông nghiệp, nhưng đó chỉ là
một phương tiện để sau đó chuyển
sang kinh doanh buôn bán.
2.
Sau khi đến định cư khai khẩn trên vùng
đất Bàn Lân (Bến
Gỗ), nhóm người Hoa do Tổng binh Trần
Thượng Xuyên đứng đầu đă nhận
thấy Cù lao Phố
có những điều kiện thuận lợi cho việc
kinh doanh buôn bán nên họ đă di chuyển về đây.
Cù
lao Phố là một băi phù sa nằm giữa sông Đồng
Nai, ''dài dặm dư, rộng 2/3 dặm, cách phía đông
trấn độ 3 dặm''. Phía nam của cù lao là sông
Phước Long. Ở giữa ḍng sông cách trên 4 dặm 1/2
thiên về phía bắc ''có đá cự tích, c̣n gọi là
thạch than (thác đá hay đá hàn)'l (4). Đây là mô đá
gồ ghề lớn nhỏ chồng chất, có vực
sâu, thế nước chảy xiết và sóng vỗ ào
ạt. Phía bắc của cù lao là sông Cát, c̣n gọi là Sa Hà
hay Rạch Cát hoặc Hậu Giang cách phía đông trấn
Biên Ḥa 3 dặm 1/2 và chảy quanh Cù lao Phố (Cù lao Phố nay là xă Hiệp Ḥa,
thuộc thành phố Biên Ḥa, tỉnh Đồng Nai. Bắc
giáp phường Thống Nhất, nam giáp xă Tân Vạn,
đông giáp phường An B́nh và Tam Hiệp, tây giáp
phường Quyết Thắng và xă Bửu Ḥa, nối
liền nội ô thành phố Biên Ḥa bằng hai cầu Ghành
và Rạch Cát (trên quốc lộ 1) cách thành phố Biên Ḥa
về phía tây nam 1 km,
cách TP.HCM về phía đông bắc 31 km.
Cù
lao Phố có hai rạch nhỏ là rạch Ông An và rạch Ḷ
Gốm, đưa nước sông Đồng Nai chảy
vào tận những cánh đồng xa tít nằm sâu trong ḷng
cù lao, rất thuận lợi cho trồng trọt Cù lao
Phố có tên là Băi Đại Phố, Giăn Phố và Cù Châu.
''Cù Châu là nói địa thế khất khúc chạy tới
như h́nh con hoa cù (rồng con có sừng) uốn khúc
giỡn nước nên nhân đó gọi tên'' (5). Cù lao
Phố có ba thôn: Nhất Ḥa thôn, Nhị Ḥa thôn, Tam Ḥa thôn
với 12 ấp: Hưng Phú, Tân Giám, B́nh Tự, B́nh
Xương, Tân Mỹ, B́nh Kính, Tân Hưng, Thành Đức,
B́nh Ḥa, B́nh Quang, Long Thới, Ḥa Quới (6).
Bằng
tư duy thương nghiệp, tư duy hàng hóa, tiền
tệ, chứ không phải bằng tư duy nông nghiệp,
chỉ biết chăm bẵm vào việc khẩn hoang,
trồng tỉa, nhóm Trần Thượng Xuyên đă
sớm phát hiện ra một ưu thế của Cù lao
Phố, có vị trí quan trọng trong kinh doanh với
đường thủy, đường bộ nối
liền miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và
đường thủy xuống Gia Định. Tuy nằm
không gần biển, nhưng là nơi sông sâu, nước
chảy, có thể tiếp tục ngược lên phía
Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, xuống
tận phía Nam, ra cửa Cần Giờ và có thể sang
tận Cao Miên. Phần lớn trong số họ đă
chuyển cư từ Bàn Lân về Cù lao Phố, phát hoang,
dựng nhà, lập bến, mở đường, xây
dựng phố chợ. Gỗ rừng sẵn và tốt
không chỉ cung cấp cho việc đóng thuyền mà c̣n là một
nguồn hàng xuất khẩu quan trọng. Sẵn vốn
liếng tiền bạc, với kinh nghiệm đă
được tích lũy, họ liên lạc, móc nối
lại các đường dây, khách hàng buôn bán cũ, họ
đă khai thác các nguồn hàng lâm thổ sản dồi dào và
phong phú trong vùng lúc bấy giờ (gỗ quư, trầm
hương, ngà voi, sừng tê, xương động
vật, lông chim, da thú, nhựa sơn, dược liệu,
tôm khô, cá khô cùng những sản phẩm nông nghiệp
khác...). Chỉ trong ṿng vài ba thập niên, đến
đầu thế kỷ XVlll, những di dân người
Hoa đă biến Cù lao Phố thành một thương
cảng xuất nhập khẩu lớn thu hút thuyên buôn
Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây
đến buôn bán và trao đổi hàng hóa. Quang cảnh
của Cù lao Phố (Nông Nại Đại Phố) hiện
ra dưới ng̣i bút của Trịnh Hoài Đức khá khang
trang, sầm uất: ''Ở đầu phía Tây băi là Đại
Phố. Khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên
tướng quân chiêu tập lái buôn người Trung
Quốc lập ra phố xá, nhà ngói, tường vôi, lầu
cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông
dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm
mở vạch ba đường phố. Phố lớn lát
đường đá trắng, phố ngang lát
đường đá ong, phố nhỏ lát
đường đá xanh, bằng phẳng như đá
mài. Khách buôn tụ họp đông, thuyền biển,
thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là
một nơi đô hội. Nhà buôn to giàu tập trung ở
đây nhiều nhất'' (7). Việc buôn bán ở nơi
thương cảng này được tổ chức khá
bài bản, khéo léo và mang tính chất kinh doanh lớn.
Điều này được thể hiện rơ nhất
trong việc giao dịch buôn bán với thương nhân
nước ngoài. Cũng theo Gia Định thành thông chí th́ ''Phía Bắc ghềnh có vực
sâu làm nơi trú ẩn cho tàu thuyền các nước. Tàu
buôn đến đây, hạ neo xong là lên bở thuê phố
ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lấy
đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân
cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua
hàng định giá và mua bao tất cả hàng hóa tốt
xấu, không bỏ sót lại thứ ǵ. Đến ngày
trương buồm trở về gọi là ''hồi
Đường'', chủ thuyền có yêu cầu mua giúp
vật ǵ th́ người chủ hiệu buôn ấy cũng
chiều ư ước đơn mà mua giùm và chở
đến trước kỳ giao hẹn, hai bên chủ và
khách chiếu theo hóa đơn thanh ~oán rồi cùng nhau
đờn ca vui chơi, đă có nước ngọt
tắm rửa sạch sẽ, lại không lo hà trùng ăn
lũng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ
hàng khác rất là thuận lợi''(8).
Hàng
hóa các chủ thuyền thường mua là những sản
vật được sản xuất ở Đồng Nai
như gạo, cá khô, sừng tê, ngà voi, gạc nai, các
loại dược thảo ở phía Nam. C̣n sản vật
các chủ hàng buôn bán thường nhận mua là những
sản phẩm tiêu dùng gồm tơ lụa, vải bố,
dược phẩm cho đến những đồ xa
xỉ, trang trí như gạch ngói, sứ men, đá xây
cột chùa, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc... Hàng
năm cứ đến tháng một, tháng chạp,
người ta thường xay giă lúa thành gạo đem bán
lấy tiền tiêu dùng vào những ngày lễ Tết. C̣n
từ cuối tháng giêng trở đi, họ không c̣n
thời giờ rảnh rỗi để xay giă lúa thóc.
Những lúc b́nh thường người ta chuyên chở
gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi
chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu,
đoạn của người Tàu đem về may mặc
nên áo quần họ toàn những hàng hóa màu tươi
tốt đẹp đẽ ít khi họ dùng những áo
quần bằng vải trắng thường'' (9).
Nguồn
xuất khẩu chính ở Cù lao Phố là lúa gạo. Lúa
gạo ở Đồng Nai nhiều nên rất rẻ ''C̣n đồng tiền xưa
th́ một tiền (60 đồng) đong được 16
đấu thóc. Cứ lường theo bát được
gạt bằng miệng mà dân gian địa phương
thường dùng th́ ba bát ấy ngang với 30 bát của Nhà
nước. Một quan tiền đong được 300
bát đồng của Nhà nước (tức bát
định chuẩn). Giá rẻ như vậy, các nơl
khác chưa từng có'' (10).
Kế
đến là nguồn gỗ quư dùng để làm tàu
thuyền v́ giao thông đường thủy là chủ
yếu, Phủ Gia Định sản xuất nhiều
gỗ tốt tra xét sổ sách của cai bạ Nguyễn
Khoa Thuyên kê biên hai xứ là nguồn Đồng Môn cùng
thủ Quang Hóa thuộc huyện Phước Long có các
thứ gỗ sao, trắc, dầu, giáng hương,
gụ'' (11)
Những
người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào Biên Ḥa,
ngoài những binh lính vẫn giữ nguyên đội ngũ
''Long Môn'' dưới quyền chỉ huy của ông, c̣n có
hàng loạt các quư tộc phong kiến và thương nhân
giàu có cùng gia quyến quê ở Quảng Đông, Hải Nam,
Phước Kiến, Triều Châu, Hẹ. Ngoài một
số sống tập trung ở Bàn Lân (Bến Gỗ), Cù
lao Phố, c̣n có những người sống rải rác
trong phạm vi vùng Đồng Nai với tính cách là những
đại lư thu mua nguyên vật liệu, hàng hóa tại
chỗ cung cấp về Cù lao Phố như ở Tân
Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, B́nh Long (hàng vàng bạc),
Chợ Đồn (nằm trong làng B́nh Long xuất lu,
hũ, cát, đá ong), Tân Mai, Vnh Thanh, B́nh Trước, B́nh
Phước (lúa gạo), Đổng Bản, Thủ
Đồn Xứ (gỗ quư, thú rừng), B́nh Sơn (đá
rửa dùng tô nhà), Phú Hộ́ (xuất trà), An Lợi (sầu
riêng), Long Tân (chuối), PhướcAn (cá Buôi, ṣ huyết),
Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Hội
Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài). Ở Nông Nại
Đại Phố, có nhiều nhà buôn bán lớn, trong đó
người mà trong nước đều biết danh là Lâm
Tổ Quan. Theo lời Trịnh Hoài Đức thuật
lại th́ Lâm Tổ Quan tên Tư là Nhái (theo cách gọi
của người Trung Quốc), người huyện
Tấn Giang, phủ Triều Châu, tỉnh Phúc Kiến,
gặp túc Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) ra lệnh thay
đổi cách phục sức, Lâm Tổ Quan cho rằng
kiểu áo măo đương cải cách ấy rất vinh
diệu, bèn dâng vàng xin làm nội viên thị hàn,
được Phúc Khoát khen là nhà phú hào (12).
Đó
là bằng chứng cho thấy ở đây, di dân
người Hoa đă rất có uy thế về tài chính và
kinh tế. Cùng với sự phát đạt của
thương nghiệp, Cù lao Phố cũng là nơi tập
trung nhiều nghề thủ công như dệt chiếu,
dệt hàng tơ lụa, gốm, đúc đồng,
nấu đường từ mía, làm bột, làm đồ
gỗ gia dụng và chạm khắc gỗ đóng
thuyền, làm pháo thăng thiên, nhuộm... Trong số các
nghề nói trên, có những nghề truyền thống do
những lưu dân Việt mang theo từ nơi quê cũ,
nhưng cũng có những nghề do thợ thủ công
Trung Quốc du nhập vào như nghề gốm, đúc
đồng, dệt lụa, làm đồ mỹ nghệ,
vàng bạc, pháo thăng thiên. Các nghề này đă để
lạ́ những dấu ấn sâu sắc trong dân gian như
những địa danh ''chợ Chiếu, xóm Cửi, xóm Ḷ
Đúc, rạch Ḷ Gốm...''. Điều này nói lên sự
phát triển kinh tế mạnh mẽ của Cù lao Phố. Chính những yếu tố
về dân cư (cuối thế kỷ XVll, số
lượng dân đến khai phá, định cư đă
lên đến 4 vạn hộ), về sự dồi dào
sản vật và nguyên liệu của vùng Đồng Nai là
những yếu tố quan trọng cho sự h́nh thành trung
tâm thương mại - thương cảng Cù lao Phố
đầu thế kỷ XVlll .
Người
Hoa không chỉ tập trung ở nơi thương
cảng này, mà c̣n tạo ra một hệ thống
đại lư thu mua và phân phối hàng hóa ăn sâu về các
bến sông, bến chợ từ đầu nguồn cho
đến nơi cửa biển. Tuy nhiên, sự thịnh
vượng của thương cảng Cù lao Phố
chỉ kéo dài đến nửa thế kỷ XVlll th́
bắt đầu đi xuống. Bởi khi Cù lao Phố
đă trở thành ''xứ đô hội''của vùng
đất mới th́ tự nó cũng trở thành nơi
diễn ra những cuộc tranh chấp về quyền lực
chính trị. Năm 1747, một nhóm khách thi Phước
Kiến do Lư Văn Quang cầm đầu và tự xưng
là ''Giăn Phố đại vương'' tập trung bè
đảng, toan đánh úp dinh Trấn Biên. Cuộc bạo
loạn này bị dập tắt nhưng đă gây nhiều
thiệt hại đáng kể cho Cù lao Phố. Mặt khác
những nguồn tài nguyên nông lâm thổ sản của
địa phương ngày một cạn kiệt, trong khi
công cuộc khai hoang miệt đồng bằng sông Cửu
Long đang mở rộng và có sức hút mạnh các lưu
dân về hướng đất ấy th́ Cù lao Phố
không c̣n và không thể đóng vai tṛ trung tâm nữa, mà
phải chuyển vị trí về Bến Nghé - Sài G̣n,
nơi có những ưu thế và thuận lợi hơn
về nhiều mặt. Tiếp đến, trận
chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh xảy ra trong
vùng này, đặc biệt biến cố năm 1776 đă
tàn phá Cù lao Phố, dù sau này một số dân có về
lại nhưng xét ra chưa được một phần
trăm thời trước(13). Như vậy, từ
buổi đầu h́nh thành và phát triển cho đến khi
bị tàn phá, trung tâm thương mại Cù lao Phố
tồn tại 97 năm (1679-1776).
3.
Có thể nói, hai nhóm di thần - tướng sĩ nhà Minh
Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch
được chỉ định vào vùng đất
mới khai khẩn, song họ vẫn được các
chúa Nguyễn cho phép giữ nguyên tổ chức phiên chế
quân đội cũ, vừa tiến hành khai khẩn
đất sản xuất theo kiểu tập đoàn
để tự giải quyết nhu cầu đời
sống, vừa có thể duy tŕ tính cách là một đơn
vị vơ trang tập trung hầu phục vụ lợi ích
của bản thân họ một khi họ cần
đến. Từ đó, Tổng binh Trần Thượng
Xuyên đă có nhiều công trạng đáng kể góp phần
ổn định vùng đất phía Nam. Năm 1688,
Dương Ngạn Địch ở Định
Tường bị viên phó tướng Huỳnh Tấn
tạo phản, giết chết, làm rối loạn trong
vùng. Nặc-Ông-Nộn tại Sài G̣n, thừa thế câu
kết với Tấn để tiến đánh anh là
Nặc-Oâng- Thu, vua Chân Lạp, đóng tại thành Long - Úc,
gây khó khăn cho Đại Việt, tạo sự bất
ḥa cho Thu bỏ triều cống. Chúa Ngăi Nguyễn
Phước Trăn (1687- 1691) thấy rơ manh tâm của
Tấn, nên lập mưu, cử tướng Vạn Long
hầu Mai Vạn Long ở dinh Thái Khương giả hiệp
cùng Tấn với Thắng Long hầu Nguyễn Thắng
Long và Tấn Lễ hầu Nguyễn Tấn Lễ đi
dẹp quân Thu, nhưng kỳ thực là để hạ
Tấn. Vạn Long sai người nói khéo đánh lừa
được Tấn đi thuyền đến chỗ
hẹn gặp, Tấn vừa bước lên bờ, bị
phục binh của Vạn Long từ bốn mặt
đổ ra, đánh bất thần. Tấn chạy ra
cửa bể Lôi Lạp (Soài Rạp) trốn thoát. Long
thẳng đến đồn bắt vợ con Tấn
đem chém, rồi chiêu tập dư đảng ''Long Môn''
tŕnh Chúa giao cho Trần Thượng Xuyên quản lănh.
Năm
Kỷ Măo (1699) tháng 7, Nặc-Oâng-Thu đắp lũy ở
Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam, cướp bóc dân buôn.
Trần Thượng Xuyên sau khi được giao kiêm
quản tướng sĩ Long Môn đă phối hợp cùng
Nguyễn Hữu Cảnh, Phạm Cẩn Long đánh
thắng quân Nặc - Oâng-Thu nhiều trận, bao vây, hạ
thành Nam Vang. Tháng 3 năm Canh Th́n (1700), Trẩn Thượng
Xuyên đích thân ra trận, giao chiến với quân Chân
Lạp, rồi tiến đến Lũy Bích Đôi và Nam
Vang, Nặc-Oâng-Thu phải đầu hàng, quân Chân Lạp
tan vỡ. Trần Thượng Xuyên đă tâu xin lập cháu
rể của Thu là Nặc-Oâng- Yêm lên làm vua Chân Lạp,
nạp cống cho Hoàng triều Phủ Chúa. Kể từ
đó, các vùng Biên Trấn (Biên Ḥa), Phiên Trấn (Gia
Định), Định Tường, Long Hồ (Vĩnh
Long) và An Giang, đều được sáp nhập vào
Đại Việt (14).
Năm
1714, Trần Thượng Xuyên được cử làm
tướng cùng với phó tướng Nguyễn Cửu Phù
tiến vây Nặc-Ông-Thâm ở thành La Bích... Oâng lập
được nhiều công trận, nên được
phong tới chức Đô đốc Thắng Tài hầu và
được tọa trấn Phiên Trấn dinh cho tới
lúc măn phần (15). Trần Tổng binh mất vào khoảng
năm 1720, ngày 23-10 âm lịch và được an táng
về mạn Bắc dinh Trấn Biên, sau thuộc huyện
Phước B́nh (Tân Uyên) phủ Phước Long Biên Ḥa (16).
Trần Thượng Xuyên có người con trai là Trần
Đại Định kết duyên cùng con gái của
Nghị Vũ Cửu Lộc hầu Mạc Cửu,
Tổng trấn Hà Tiên, nguyên là em Gái của Đô
đốc Tổng Đức hầu Mạc Thiên Tích.
Năm Ất Tỵ (1725), Trần Đại Định
nối nghiệp cha, phục vụ dưới triều
Chúa Định Quốc Công Nguyễn Phước Trú và
được tập phong tước Tổng binh
Định Viễn hầu, chỉ huy cả hai đạo
binh ''Phiên Trấn'' và ''Long Môn'' (17).
Năm
1731, Trần Đại Định đem thuộc
tướng Long Môn đánh quân Chân Lạp ở Phù Viên
(Vườn Trầu - Hóc Môn) lập công lớn, ông lại
cùng Trương Phước Vĩnh, Nguyễn Cửu Chiêm
chia quân làm ba đường truy kích địch đến
tận Ba Nam thắng lớn. Năm 1732, Trần
Đại Định lại một lần nữa đem
quân sang Ḷ Việt (Lô Việt) tiếp tục đánh
thắng quân Chân Lạp. Tuy nhiên, do vụ án Nguyễn
Phước Vĩnh khiến Trần Đại
Định bị oan và chết trong ngục thất
Quảng Nam vào giữa tháng chạp. Chúa Nguyễn
Phước Chú thương xót ông cho truy tặng hàm Đô
đốc Đồng tri. Cháu củaTrần Thượng
Xuyên là Trần Đại Lực do có công cũng làm
đến chức cai đội cho đến lúcTây Sơn
vào đánh Gia Định năm 1776 (18).
4.
Chúa Nguyễn từng có lời dụ rằng: ''Họ
Nguyễn làm vua, họTrần làm tướng, công khanh
đời đời không dứt (19). Đây là sự ghi
nhận công lao to lớn của Trần Thượng Xuyên.
Ông không chỉ có công tập hợp thương nhân lập
ra Cù lao Phố với hoạt động thương
mại tấp nập, phát triểnphồn thịnh,
trở thànhđầu mối buôn bán của cả miền
Đồng Nai - Gia Định, mà ông c̣n có công mở mang
vùng Bàn Lân (Tân Lân) – nay kế chợ Biên Ḥa. Đồng
thời lập những chiến công lớn giúp nhà
Nguyễn dẹp yên và ổn định t́nh h́nh ở
Đàng Trong và mở mang bờ cơi phía Nam.
Thơ vịnh Trần
Thượng Xuyên (20)
Thâm thù giặc Măn,
nặng nhân luân,
Nuốt hận chia ly với tử phần.
Đành dứt trời Ḥa cam nhớ nước,
Quyết sang đất Việt để làm dân.
Thanh Hà một xă nông thương tụ,
Phiên Trấn đôi dinh tước lộc
nhuần.
Xứ Bưởi truyền lưu công nghiệp
lớn,
Báo đền kia đó miếu Tan
Lân.
Sự có mặt của di dân người
Hoa từ thế kỷ XVll, XVlll đă góp phần ~tạo
nên những chuyển biến quan trọng về kinh tế
- xă hội và văn hóa ở Đàng Trong. Đối
với một số nhóm người Hoa, trong đó có nhóm
của Tổng binh Trần Thượng Xuyên, sau khi
nhận quan tước, họ thành thần dăn của chúa
Nguyễn, họ đă có những hành động thiết
thực giúp các chúa Nguyễn mở mang và củng cố
chủ quyển trên đất Đồng Nai - Gia
Định. Đồng thời, họ cũng xây dựng
nên một cộng đồng người Hoa vững
chắc ở nhiều nơivà đă xây dựng
được nền tảng cho sự phát triển
của họ về sau. Có thể nói, công cuộc khai phá
vùng đất phía Nam, nhất là vùng Đồng Nai - Gia
Định trong các thế kỷ XVll, XVlll, có sự đóng
góp đáng kể của bà con di dân người Hoa. Các
đất Biên Ḥa, Mỹ Tho, Hà Tiên và nhiều nơi khác
sở d có được bộ mặt như ngày nay là do
có nhiều công sức của bà con người Hoa di cư
trong buổi ban đầu, họ trở thành một thành
phần không thể tách rời trong cộng đồng dân
tộc Việt Nam.
(1) Lương Văn Lựu, Biên Ḥa sử
lược toàn biên, quyển thứ 2, Biên hùng oai dũng,
xuất bản 1973, tr.115.
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn),
Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, Huế,
1997, T.5, tr. 184.
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, Huế
1997, T.5, tr. 81.
(4) (5) (6) Trinh Hoài Đức, Gia
Định thành thông chí, tập Trung, tr. 20-21, dẫn
lại Địa chí Đồng Nai, (tập3 - L.Ich
sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 108 - 109.
(7) Trinh Hoài Đức, Gia Định
thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr. 194.
(8) Trịnh Hoài Đức, Gia Định
thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr.24
(9) Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục,
Q.VI, tr.441, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập
3 - L.Ich sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr.
123.
(10) Lê Quư Đôn. Phủ biên tạp lục.
QIIl, tr.223, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập
3 - Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001,
tr. 123.
(11)
Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, Q. VI, tr.375, dẫn
theo Địa chí Đồng Nai (tập 3 - Lịch
sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.
(12)
Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Q. VI, Thành
tŕ chí, tr.28a-b.
(13)
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản
dich, NXB Giáo dục, 1998. Tr. 195.
(14)
Lương Văn Lựu, Biên Ḥa sư ûlược toàn
biên, quyển thứ II - Biên Hùng oai dũng, xuất bản
l973, tr. 118.
(15)
Vũ Huy Chân, Ḷng quê: nhân vật - thắng cảnh - di tích
lịch sử, l973, tr.86
(16)
Lương \/ăn Lựu, Sđdi tr. 119.
(17)
Lương Văn Lựu, Sđd. Tr 119.
(18)
Dương Văn Huề! ''Thêm đôi điều về
các nhóm người Hoa ở Gia Định thời các chúa
Nguyễn, tr. 379 dẫn theo trường Đại học
Sư phạm TP.HCM, Nam bộ và Nam Trung bộ - Những
vấn đề "Lịch sử thế kỷ XVII-XIX,
Kỷ yếu hội thảo, tháng 5-2002.
(19)
Lương Văn Lựu, Sđd, tr. 120.
(20)
Xin dẫn lai bài thơ vịnh này của tác giả Vũ
Huy Chân (Ḷng quê, nhân vật, thắng cảnh - di tích l.Ich
sử, 1973, tr.86) đểchúng ta hiểu hơn về con
người Tổng binh Trần Thượng Xuyên - nhân
vật đă có nhíều công lao với vùng đất Biên
Ḥa - Đồng Nai.
Tài liệu tham
khảo chính
1.Đạí Nam nhất
thống chí- Lục tỉnh Nam Việt, tập
Thượng - Biên Ḥa, Gia Định - Nhà Văn hóa Phủ
Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa. 1973.
2. Địa chí
Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử), NXB Tổng
hợp Đồng Nai, 2001.
3. Huỳnh Lứa, Góp
phần t́m hiểu vùng đất Nam bộ các thế
kỷ XVll, XVlll, XIX, NXB Khoa học xă hội, 2000.
4. Li Tana, Xứ Đàng
Trong - Lịch sử kính tê- xă hội Việt Nam thế
kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, TP.HCM, 1999.
5. Lương Văn
Lựu, Biên Ḥa sử lược toàn biên, quyển thứ
II - Biên Hùng oái dũng, xuất bản 1973.
6. Phan Khoang, Việt
sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí, 1967.
7. Trường
Đại học Sư phạm TP.HCM, Nam bộ và Nam Trung
bộ - Những vấn đề lịch sử thế
kỷ XVII-XIX Kỷ
Yếu hội
thảo, tháng 5-2002.
8. Vũ Huy Chân, Ḷng quê:
nhân vật - thắng cảnh - di tích lịch sử, 1973.
Tiến sĩ PHẠM PHÚ LỮ
(Viện Khoa hạc Xă hội vùng Nam
bộ)